04222019Thứ 2
Last updateChủ nhật, 21 04 2019 4pm

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THÀNH LẬP (1930) - SỰ HOÀN TẤT HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ NHỮNG BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

0
0
0
s2smodern
powered by social2s

1. Đặt vấn đề

Nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền (lũng đoạn). Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thị trường trong nước trở nên chật hẹp, các nước tư bản đẩy mạnh quá trình xâm chiếm thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Trong bối cảnh chung như vậy, nửa sau thế kỉ XIX, Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã từng bước trở thành thuộc địa nửa phong kiến. Từ đó cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi qua những ngọn cờ khác nhau.

2. Nội dung

2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - Sự hoàn tất hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, đã xuất hiện những khuynh hướng cứu nước theo những con đường khác nhau. Con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến đã cáo chung với thất bại của phong trào Cần Vương (1885-1896). Sang những năm đầu thế kỉ XX đã xuất hiện những hướng đi mới nhằm giải phóng dân tộc, đó là con đường cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh- những sĩ phu yêu nước tư sản hóa, hay ngọn cờ cứu nước của tư sản dân tộc tập hợp quanh những yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng… Tuy nhiên, các con đường cứu nước trên đều không thành công.

Khi những đám mây đen của chủ nghĩa phát xít che phủ bầu trời châu Âu, năm 1911, Nguyễn Tất Thành [1] ra đi tìm đường cứu nước, hướng tới phương Tây, đến nước Pháp; rồi qua nhiều nước, nhiều châu lục khác nhau. Người nhận thấy ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man. Trải qua một số năm ra đi tìm đường cứu nước, cuối năm 1917 Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp và năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Như vậy trong hành trình tìm đường cứu nước từ 1911 -1919, Nguyễn Tất Thành chưa tìm được con đường cứu nước phù hợp, mà mới chỉ dừng lại ở việc tham gia và đứng về phía người lao động, đồng cảm với thân phận của họ.

Giữa năm 1920, Người đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Qua đó giúp người khẳng định con đường giành độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua (25/12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã đứng về phía đa số đại biểu bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản (QTIII) và thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Sau khi tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc, thông qua những hoạt động của mình tại Pháp, Liên Xô, Trung Quốc…, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục học tập, nghiên cứu về con đường cách mạng Tháng Mười, về chủ nghĩa Mác - Lênin và đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước.

Để tiến tới thành lập một chính đảng theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có những bước đi đặt nền móng vững chắc thông qua việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (tháng 6/1925). Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng vô sản, một tổ chức quá độ để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản, bởi lúc đó sự giác ngộ về chủ nghĩa Mác – Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước mới ở giai đoạn đầu tiên và phong trào đấu tranh của công nhân cũng mới ở giai đoạn bước đầu từ tự phát sang tự giác. Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, nhất là việc thực hiện chủ trương vô sản hóa, đã thúc đẩy phong trào công nhân phát triển mạnh, trở thành nòng cốt của phong trào dân tộc trong cả nước.

Đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh, trong đó giai cấp công nhân đã thực sự trở thành lực lượng tiên phong. Điều đó đòi hỏi phải một chính đảng vô sản ra đời để lãnh đạo phong trào đấu tranh. Cùng thời gian này ở Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản. Các tổ chức trên hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho phong trào cách mạng Việt Nam đứng trước sự chia rẽ lớn. Yêu cầu đặt ra là phải thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất. Trước tình hình ấy, Nguyễn Ái Quốc với cương vị là phái viên của Quốc tế cộng sản đã triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) để bản việc hợp nhất. Hội nghị bắt đầu họp từ ngày 6/1/1930. Nguyễn Ái Quốc phê phán những quan điểm sai lầm của các tổ chức cộng sản riêng rẽ. Hội nghị đã thảo luận và nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua Chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, xác định đường lối chiến lược cách mạng; nhiệm vụ của cách mạng; lực lượng cách mạng; lãnh đạo cách mạng… Cuối tháng 2/1930, đề nghị gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được chấp nhận.

Như vậy, với việc tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc năm 1920 và tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước, đến năm 1930, khi điều kiện chín muồi, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đã hoàn tất hành trình tìm đướng cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, bởi lẽ từ đây cách mạng Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của một chính đảng cách mạng.

2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - Những bước ngoặt trong lịch sử dân tộc

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong những bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc.

Trải qua các bước tập dượt trong phong trào cách mạng 1930 - 1931; 1936- 1939, đặc biệt là trong giai đoạn 1939 -1945, khi chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra, Đảng đã có những chuẩn bị tịch cực về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho phù hợp với hoàn cảnh, xây dựng lực lượng vũ trang; xây dựng đội quân chính trị hùng hậu của quần chúng thông qua vai trò của mặt trận Việt Minh cũng như xây dựng chỗ đứng chân cho lực lượng vũ trang là các căn cứ địa, để rồi tới 1945, lợi dụng thời cơ Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945) tại Đông Dương đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, rồi khi Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công trên phạm vi cả nước trong khoảng 15 ngày (từ 14/8 đến 28/8/1945), phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật; lật đổ ngai vàng phong kiến tồn tại lâu đời ở nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước do nhân dân lao động làm chủ.

Sau cách mạng Tháng Tám thành công, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương, từ 19/12/1946, cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân ta đã từng bước giành được những thắng lợi trên các mặt trận và với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), ta đã giải phóng toàn bộ khu Tây Bắc, kết thúc 9 năm kháng chiến, quyết định lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là chiến thắng lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo cơ sở thuận lợi cho ta tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết, Mỹ liền thay thế Pháp dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Xuất phát từ thực tế lịch sử sau 1954, Đảng ta đề ra cho mỗi miền một chiến lược cách mạng khác nhau. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong giai đoạn 1954- 1975, miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, chi viện cho chiến trường miền Nam; miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trước thắng lợi của nhân dân ta ở hai miền Nam – Bắc, ngày 27/1/1973, Mỹ phải kí Hiệp định Pari: tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút hết quân về nước.

Căn cứ vào so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam thay đổi mau lẹ theo hướng có lợi cho cách mạng sau Hiệp định Pari, nhất là từ cuối năm 1974 - đầu 1975, Bộ Chính trị đã triệu tập các Hội nghị đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 – 1976. Thực hiện kế hoạch từ tháng (4/3/1975 đến ngày 2/5/1975), ta bắt đầu Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 kết thúc với Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long giành chính quyền, mở ra kỉ nguyên mới của cách mạng Việt Nam- kỉ nguyên đất nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong 10 năm đầu cả nước đi lên CNXH, cách mạng nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực song vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Muốn đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng ta phải nhanh chóng khắc phục sai lầm, khuyết điểm, tiến hành công cuộc đổi mới.

Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (12/1986), được điều chỉnh, bổ sung và phát triển quan các kì đại hội tiếp theo: Đại hội VII (1991),  Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006), Đại hội XI (2011) và Đại hội XII (2016). Thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trước hết là đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng; hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước; từng bước tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Những thành tựu trên chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp.

3. Kết luận

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) là kết tinh thành quả cao nhất trong quá trìm tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Trải qua quá trình 89 năm hình thành và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đồng hành với dân tộc ở những bước ngoặt quan trọng nhất, từng bước đưa dân tộc vững bước đi lên hội nhập với bạn bè khu vực, quốc tế.

[1] Tên gọi của Nguyễn Ái Quốc từ lúc ra đi tìm đường cứu nước đến năm 1919.