08212018Thứ 3
Last updateThứ 3, 21 08 2018 3am

BÀN VỀ XU HƯỚNG FINTECH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG VÀ NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG BAN ĐẦU Ở VIỆT NAM

Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, canh tranh trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ diễn ra ở một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khu vực địa lý,… mà đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, với việc ứng dụng những thành tựu mới nhất của tiến bộ khoa học công nghệ, đặt biệt là công nghệ thông tin trong các nghiệp vụ và giao dịch tài chính. Cũng chính vì vậy, thuật ngữ: Fintech được nhắc đến thường xuyên hơn, được đề cập ở phạm vi rộng lớn hơn.

Từ khóa: xu hướng Fintech, lĩnh vực ngân hàng

1. Tổng quan về phát triển Fintech hiện nay trên toàn cầu

Fintech được hiểu là công nghệ tài chính. Đây là một thuật ngữ có phạm vi khá rộng, hiểu một cách đầy đủ, có nghĩa là ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ tiên tiến nhất trong lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán và đầu tư.

Các công ty fintech được chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là các công ty phục vụ người tiêu dùng, cung cấp các công cụ kỹ thuật số để cải thiện phương thức các cá nhân vay tiền, thấu chi; quản lý tài chính cá nhân, tài trợ vốn cho các startup. Nhóm còn lại là các công ty thuộc dạng “back-office” hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính, tập trung là các ngân hàng.

Việc ứng dụng rộng rãi và mạnh mẽ Fintech đòi hỏi những thay đổi căn bản về môi trường pháp lý, các hoạt động quản lý và quản trị điều hành, các quy định nội bộ, tư duy và nhận thức của con người, việc sử dụng và vận hành công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực tài chính và hoạt động quản lý của các doanh nghiệp nói chung, trong hoạt động ngân hàng nói riêng, cũng như những việc làm quen, sử dụng thành thạo của khách hàng về công nghệ tiên tiến trong các giao dịch tài chính, quản lý tài chính và hoạt động tài chính.

Ngày này người ta càng thấy rõ, Fintech có thể tái định hình ngành tài chính, tác động rất mạnh đến các thành phần quan trọng nhất của ngành này. Hiện tại các công ty cho vay P2P, từ là kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay trên nternet, đã hoạt động khá hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian phê duyệt các khoản vay từ vài tuần ở các ngân hàng truyền thống xuống chỉ còn vài giờ.

Theo tính toán của Morgan Stanley, khối lượng các khoản vay trực tuyến ở Mỹ sẽ chạm mốc 120 tỷ USD vào năm 2020, so với con số khiêm tốn 20 tỷ USD của năm 2015, tức là tăng gấp 6 lần trong vòng chỉ có 6 năm.

Ở lĩnh vực quản lý đầu tư, những công ty lớn như BlackRock và Vanguard có dịch vụ “robot tư vấn” (robot adviser) sử dụng các thuật toán để tự động điều chỉnh danh mục đầu tư tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Một số quỹ đầu cơ đang thử nghiệm và đã thành công ở nhiều mức độ khác nhau trong việc sử dụng trí thông minh nhân tạo để robot có thể tự học các thuật toán, tự động tính toán các khoản vay, các khoản đầu tư  và chuyển đổi danh mục đầu tư. Trên thị trường vốn, các startup và kể cả các tập đoàn lớn như Goldman Sachs hay thậm chí là NHTW Anh (BOE) đang thử nghiệm sử dụng các loại tiền ảo, như: bitcoin,…thay thế cho các phương thức chuyển tiền và tài sản truyền thống.

Có thể khẳng định rằng, trong 10 năm gần đây, công nghệ tài chính Fintech có phát triển rất nhanh chóng, tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ về đầu tư Fintech trong các ngân hàng, doanh nghiệp cũng như cạnh tranh thu hút khách hàng, đang đặt ra nhiều thách thức cho các mô hình kinh doanh truyền thống trên toàn cầu. Các định chế tài chính đã mạnh dạn đầu tư lớn cho ứng dụng Fintech, bao gồm cả máy móc, thiết bị, phần mềm và công nghệ, đào tạo cán bộ nhân viên, hướng dẫn khách hàng. Dẫn đầu trong lĩnh vực này là các định chế tài chính, các doanh nghiệp ở châu Á. Kể từ năm 2010, thế giới đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ đầu tư vào Fintech ở châu Á đã tăng trưởng gấp gần 100 lần, trong đó Trung Quốc, bao gồm cả Đặc khu Hành chính Hongkong và Macao đang có tỷ trọng áp đảo về tốc độ và quy mô đầu tư.

Một số tính toán đã chỉ ra rằng, tính cộng dồn từ năm 2010 đến tháng 3/2017, Mỹ là quốc gia đầu tư vào Fintech nhiều nhất, với tổng số vốn lên tới 63,1 tỷ USD; tiếp sau là các quốc gia thuộc Châu Á - Thái Bình Dương, với số tiền đầu tư 22,9 tỷ USD; đứng thứ ba là nhóm các nước châu Âu, Trung Đông và châu Phi, với số vốn đã đầu tư là 10,8 tỷ USD. Tuy nhiên, 2015 là năm đầu tiên mà tăng trưởng đầu tư vào Fintech mạnh mẽ nhất là ở các nước châu Á – Thái Bình Dương, mặc dù Fintech ở các nước châu Á tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).

Trong hoạt động ngân hàng, việc ứng dụng mạnh mẽ cho đổi mới công nghệ tài chính - Fintech được thực hiện trên nhiều phương diện, từ hoạt động cho vay, dịch vụ ngân hàng, quản trị rủi ro, đến các giao dịch tần suất cao, dữ liệu lớn. Có thể dẫn chứng nhiều ví dụ điển hình và cụ thể về thành công ứng dụng Fintech vào hoạt động ngân hàng trên khắp toàn cầu như dịch vụ ngân hàng ứng dụng điện thoại di động ở Kenya, Trung Quốc, đã giúp hàng chục và thậm chí mà hàng trăm triệu người chưa biết đến các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích được tiếp cận với hệ thống tài chính chính thức. Tại Trung Quốc, thậm chí những người bán hoa quả, bán hàng rong cũng yêu thích thanh toán tiền bán hàng qua điện thoại di động, qua dịch vụ thẻ ngân hàng. Dịch vụ chuyển tiền giúp các nước đang phát triển chuyển tiền giữa các quốc gia một cách nhanh chóng với chi phí rất thấp, nhất là việc chuyển tiền kiều hối, chuyển thu nhập của người lao động ở nước ngoài về cho thân nhân trong nước trở nên đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng hơn và tiện lợi hơn.

Các mảng sản phẩm và dịch vụ tài chính do các các công ty chuyên về giải pháp công nghệ tài chính toàn cầu cung cấp thường là dịch vụ thanh toán; bảo hiểm; lập kế hoạch đầu tư; cho vay, huy động vốn từ khách hàng cá nhân và các nhóm khách hàng tiềm năng; công nghệ sổ cái điện tử (blockchain); mua bán chứng khoán và đầu tư; dữ liệu và phân tích quản trị điều hành cũng như quản trị rủi ro; an ninh, bảo mật.

Việc ứng dụng Fintech có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các định chế tài chính, đến sự phát triển của các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại tiện ích. Sư phát triển này tùy thuộc đặc điểm của từng nhóm đối tượng khách hàng bán lẻ, như: độ tuổi, sự am hiểu công nghệ, mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử. Việc ứng dụng rộng trãi và mạnh mẽ Fintech cũng còn tùy thuộc vào quan điểm và chính sách của các cơ quan quản lý, như sự cởi mở, mức độ tạo điều kiện tiếp cận công nghệ, sản phẩm mới, khuyến khích cạnh tranh hay muốn đảm bảo an toàn. Một góc độ khác của sự phát triển Fintech đó là còn tùy thuộc vào đặc điểm và mức độ phát triển của lĩnh vực ngân hàng, nhất là hệ điều hành, chương trình phần mềm, các bản thiết kế của Fintech, tùy thuộc vào mức độ hợp tác chặt chẽ giữa các công ty công nghệ, viễn thông, môi trường kinh tế, khả năng đầu tư và mức độ sẵn sàng thay đổi, chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. 

2. Phản ứng của ngành ngân hàng toàn cầu đối với phát triển của Fintech

Ngành ngân hàng trên toàn cầu đang phản ứng với sự phát triển của Fintech theo 5 cách khác nhau:

i) Coi các công ty fintech là đối tác trong hoạt động kinh doanh. Các công ty Fintech cung cấp các giải pháp công nghệ ứng dụng trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong thời gian đầu, nhiều ngân hàng lớn đã xem nhẹ sự xuất hiện của các startup về Fintech. Song hiện nay các ngân hàng đã chấp nhận thực tế rằng công nghệ sẽ tác động mạnh mẽ, khiến ngành ngân hàng thay đổi một cách căn bản như các ngành khác trong nền kinh tế.

Dịch vụ tư vấn tự động cho khách hàng và các công nghệ khác do Fintech cung cấp  có thể giúp ngân hàng phục vụ khách hàng tốt hơn, hàng nghìn nhân viên có thể bị thay thế bằng máy móc, công nghệ. Các ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư,… truyền thống khác cũng lo ngại rằng họ chậm thay đổi nên đang bị các công ty Fintech sử dụng lợi thế lớn trong cuộc đua giành thị phần. Nhiều người lo ngại rằng, làn sóng công nghệ thay thế những phương thức truyền thống, công việc kinh doanh của nhiều ngân hàng sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu như họ không bắt kịp được với công nghệ.

ii) Lựa chọn đầu tư mạo hiểm. Các ngân hàng coi đây là một lĩnh vực đầu tư, sẵn sàng đầu tư vốn vào các công ty Fintech.

Trên toàn thế giới, các công ty đầu tư mạo hiểm đã rót hơn 17 tỷ USD vào các công ty khởi nghiệp Fintech trong năm 2016, tăng gấp 6 lần so với 2012. Năm ngoái, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành điểm đến nóng nhất cho làn sóng đầu tư vào Fintech. Chỉ ở riêng Singapore cũng có hơn 100 startup hoạt động trong lĩnh vực Fintech. Mới chỉ có 1 phần nhỏ lên sàn chứng khoán, vì thế nhà đầu tư dự đoán sẽ có một làn sóng M&A và lên sàn trong thời gian tới trong bối cảnh các ngân hàng săn lùng những công nghệ mà họ có thể sử dụng, đồng thời các công ty startup sẽ đạt được độ trưởng thành. Các ngân hàng khác như Citigroup hay Banco Santander SA đã thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm mua cổ phần của các công ty fintech.

iii) Các ngân hàng cân nhắc về việc mua bán sáp nhập với các công ty Fintech, nâng cao năng lực cạnh tranh.

iv) Các ngân hàng sẵn sàng hợp tác thúc đẩy sự phát triển của các công ty Fintech. Ví dụ, Barclays đã hỗ trợ 60 startup trong khuôn khổ các chương trình cải tiến ở London, New York, Tel Aviv và Cape Town.

Trong thời gian gần đây, các ngân hàng châu Á hiện có xu hướng hợp tác với các công ty Fintech. Tuy nhiên mức độ đầu tư của ngân hàng vào lĩnh vực Fintech còn nhỏ, chỉ chiếm khoảng 2% nguồn vốn. Đó là con số chung cho các ngân hàng ở Châu Á. Fintech có khả năng gây ảnh hưởng cao đối với các ngân hàng và định chế tài chính cũng như các doanh nghiệp ở Trung Quốc, thấp với Singapore và cao với Việt Nam.

Ở Singapore, mô hình Fintech hợp tác với ngân hàng có xu hướng thu hút được vốn đầu tư ngày càng nhiều hơn. Trong lĩnh vực ngân hàng, Fintech dễ tác động nhất tới nhóm khách hàng cá nhân, tiếp theo là Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cuối cùng là doanh nghiệp lớn, tập đoàn. Tính sáng tạo của Fintech đặt ra những yêu cầu mới về quản lý. Thực tế ở các nước khu vực châu Á như Hongkong, Thailand, Indonesia, Malaysia, Ngân hàng trung ương của các nước này đều có xu hướng có các chính sách, hành động hỗ trợ ngày một nhiều hơn cho sự đổi mới và phát triển Fintech. Singapore, với tư cách một trung tâm tài chính của Châu Á, Chính phủ Singapore có những sáng kiến và nỗ lực mạnh mẽ để hỗ trợ cho sự phát triển và đổi mới Fintech.

v) Chủ động nghiên cứu và phát triển Fintech trong nội bộ hệ thống ngân hàng.

Các ngân hàng đang cố gắng đi trước một bước. Một số ngân hàng sử dụng sức mạnh thương hiệu và công nghệ để tự mình thử nghiệm với Fintech. Các phương thức tiếp cận phổ biến ở thung lũng Silicon thường được áp dụng trong trường hợp này. Tuy nhiên, rất khó để các ngân hàng lớn tích hợp công nghệ mới vào hệ thống máy tính đã lỗi thời của họ. Do đó các ngân hàng lớn đang tỏ ra khá chậm chạp, dù tiền đầu tư không phải là ít

Dù các công ty Fintech cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ tài chính, từ các khoản vay thế chấp trực tuyến, đến tất cả các loại tài khoản nghỉ hưu, quỹ hưu trí, quỹ bảo hểm,…nhưng sự thuận tiện có thể khiến một số khách hàng tham gia những dịch vụ mà họ không thực sự hiểu về các quyền hạn nghĩa vụ của bản thân. Một số người lo ngại Fintech cũng có thể thay thế các ngân hàng truyền thống, khiến các hộ gia đình và có thu nhập thấp không thể tiếp cận với dịch vụ ngân hàng.

3. Chuyển động của Ngân hàng Trung ương và tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế về Fintech

Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore (MAS) đã thực hiện quy định tạo thuận lợi cho môi trường Fintech, đồng thời tăng tính an toàn, củng cố an ninh mạng, đảm bảo bảo mật dữ liệu, quy chế tạo thuận lợi cho thử nghiệm sản phẩm mới; triển khai cơ chế giám sát báo cáo hiệu quả, tạo hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo, hỗ trợ tài chính, khuyến khích thanh toán điện tử.

Bên cạnh đó, MAS đã đưa ra sáng kiến Trung tâm Tài chính Thông minh từ năm 2016 nhằm các mục tiêu: tăng hiệu quả, tạo cơ hội, quản lý rủi ro tốt hơn và nâng cao đời sống người dân. Trong hai năm qua, Singapore cũng có nhiều sáng kiến cụ thể để phát triển Fintech và hỗ trợ đổi mới.

Về mặt quản lý trên phương diện toàn cầu, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã thành lập Nhóm tư vấn gồm các lãnh đạo có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính và công nghệ, các nhà quản lý, luật sư và giảng viên đại học, những người tiên phong trong lĩnh vực Fintech. Nhóm Tư vấn có nhiệm vụ tham mưu, giúp IMF nắm được sâu sắc hơn các vấn đề về Fintech toàn cầu; phối hợp chặt chẽ với Tổ công tác liên vụ của IMF về tài chính và công nghệ, được thành lập năm 2016 để nghiên cứu mối quan hệ về mặt kinh tế và quyền lực kiểm soát đối với sự phát triển trong lĩnh vực tài chính và công nghệ.

Ngân hàng Nhà nước chủ động đón nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động

Mới đây Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã đưa vào vận hành Hệ thống SG3.1 - hệ thống ngân hàng lõi, kế toán, lập ngân sách và tích hợp sau hơn 30 tháng triển khai. Đến nay, có thể khẳng định Hệ thống SG3.1 đã được triển khai thành công, là một bước chuyển lớn của NHNN. Toàn bộ các hoạt động, nghiệp vụ kế toán, tài chính trên toàn quốc của NHNN đang thực hiện phân tán và trên nhiều hệ thống ứng dụng khác nhau trước đây đã được thay thế bằng một Hệ thống SG3.1 duy nhất. Trong đó các nghiệp vụ đã được chuẩn hóa và cung cấp dịch vụ theo nhiều kênh khác nhau cho 17 Vụ, Cục, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của NHTW; 63 NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố và hơn 100 Tổ chức tín dụng (TCTD) trên toàn quốc. Bên cạnh các thay đổi về quy trình nghiệp vụ thì hệ thống SG3.1 cũng được coi là bước tiến dài về mặt ứng dụng công nghệ của NHNN.

Đây là một thành tựu xuất sắc, có được do sự hợp tác tuyệt vời giữa ban lãnh đạo NHNN, ban quản lý dự án, các đơn vị Vụ, Cục, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của NHNN, các chuyên gia tư vấn giám sát và nhà thầu. Sau công tác hỗ trợ thực hiện triển khai dự án của Ngân hàng Thế giới (WB) gần đây vào tháng 5/2017, Ban Quản lý quốc gia của WB đã đồng ý nâng xếp hạng PDO của dự án FSMIMS lên mức độ thỏa mãn cao. Hơn nữa, với công việc triển khai xuất sắc của ban lãnh đạo NHNN, ban quản lý dự án và các nhóm triển khai dự án, xếp hạng quản lý dự án đã được nâng lên mức đạt yêu cầu cao.

Hợp đồng SG 3.1 có phạm vi triển khai phức tạp, không chỉ có cấu phần Ngân hàng lõi (Core banking) mà còn bao gồm cả các cấu phần: Lập kế hoạch quản lý nguồn lực (ERP), quản lý ngân sách và xây dựng nền tảng tích hợp với các hệ thống ứng dụng khác của NHNN. Với phạm vi triển khai này, NHNN là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam triển khai đồng thời hai cấu phần Core banking và ERP, điều mà các NHTM Việt Nam đang cố gắng tránh do tính phức tạp của nghiệp vụ và khối lượng công việc phải triển khai rất lớn.

Hệ thống Core banking của NHNN ngoài các chức năng tương tự như hệ thống tại TCTD, còn có thêm các chức năng đặc biệt để giúp NHNN thực thi các nhiệm vụ với vai trò của NHTW, như: Nghiệp vụ thị trường mở, đấu thầu trái phiếu kho bạc nhà nước, tín phiếu NHNN, trái phiếu VAMC, đấu thầu vàng; nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, nghiệp vụ quản lý dự trữ bắt buộc, quản lý hệ thống tài khoản tập trung của các TCTD, quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia, quyết toán giao dịch giấy tờ có giá, quyết toán kết quả thanh toán từ các hệ thống thanh toán liên ngân hàng, bù trừ, chuyển mạch... Ngoài ra, hệ thống SG3.1 sẽ phải tích hợp, trao đổi dữ liệu với nhiều hệ thống thông tin khác nhau về nền tảng kỹ thuật, công nghệ đã có của NHNN, hoặc đang được triển khai trong phạm vi Dự án FSMIMS, như: Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS), Hệ thống quản lý và phát hành kho quỹ (CMO), Hệ thống báo cáo thống kê (SG4), Hệ thống quản lý nguồn nhân lực (SG3.2)...

Để có cơ sở triển khai hệ thống mới này đòi hỏi NHNN phải rà soát, ban hành lại một khối lượng rất lớn các văn bản quy phạm về hệ thống tài khoản kế toán, hướng dẫn hạch toán, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ, quy trình kỹ thuật vận hành…

Tổ triển khai Hợp đồng SG3.1 của NHNN, sự tận tâm và tính chuyên nghiệp của các cán bộ công ty TNHH FPT - IS. Đặc biệt các chuyên gia WB đã luôn sát cánh cùng NHNN trong quá trình hiện đại hóa ngành Ngân hàng nói chung và triển khai Dự án FSMIMS nói riêng.

Để đáp ứng kịp thời, đầy đủ và chính xác thông tin, phục vụ công tác quản lý và điều hành của Ban Lãnh đạo NHNN, Ban Quản lý dự án, Cục Công nghệ tin học cũng như các Vụ, Cục, Cơ quan thụ hưởng trực tiếp Dự án và nhà thầu FPT IS tiếp tục hoàn thiện hệ thống SG3.1, làm tốt công tác chuyển giao công nghệ, đảm bảo hệ thống hoạt động liên tục, an toàn.

Với 4 cấu phần chính, giờ đây, NHNN đã có được một hệ thống giúp thay đổi căn bản những hạn chế còn tồn đọng, đổi mới về mô hình tổ chức nghiệp vụ, phân công lao động, phương thức quản lý điều hành, tác nghiệp hàng ngày và công nghệ của NHNN.

Dự án không chỉ tạo nên những bước tiến lớn cho NHNN về mặt công nghệ mà còn giúp NHNN rút gọn, hiện đại hoá các quy trình nghiệp vụ từ xử lý, hạch toán thủ công, phân tán sang tự động hoá, xử lý và kiểm soát tập trung. Với sự vận hành chính thức của hệ thống, đã hoàn thành một hệ thống công nghệ thông tin quan trọng góp phần đưa NHNN tiến tới các chuẩn mực NHTW trên thế giới. Sự phát triển vững mạnh của NHNN là nền tảng để  tin tưởng và hướng tới sự phát triển tích cực của Việt Nam.

Với việc triển khai thành công Hệ thống SG3.1, NHNN đã có được một hệ thống thông tin hiện đại, tương đối hoàn chỉnh để hỗ trợ tích cực cho điều hành chính sách tiền tệ cũng như công tác quản lý nguồn lực nội bộ của NHNN, nâng cao hiệu lực quản lý hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế cũng như hoạt động của các TCTD.

4. Những việc triển khai tiếp theo của ngành ngân hàng Việt Nam chủ động đón nhận Fintech

Ở Việt Nam, ngày 16/3/2017, Thống đốc NHNN đã thành lập Ban Chỉ đạo về lĩnh vực công nghệ tài chính của NHNN, có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với Thống đốc các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, kể cả hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Fintech ở Việt Nam phát triển, phù hợp với chủ trương, định hướng của Chính phủ.

Thời gian qua, gắn với lĩnh vực ngân hàng, chủ yếu là Fintech trong lĩnh vực thanh toán. Mô hình hoạt động Fintech trong thời gian qua chủ yếu là mô hình hợp tác giữa công ty Fintech và ngân hàng. Hiên nay, tất cả các công ty trung gian thanh toán được NHNN cấp giấy phép hoạt động đều phối hợp với ngân hàng để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng. Việt Nam là quốc gia sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi và tiềm năng cho sự phát triển của lĩnh vực Fintech. Hệ thống  Fintech tại Việt Nam chưa có sự kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể, bao gồm: cơ quan quản lý, các định chế tài chính, công ty Fintech và các doanh nghiệp khởi nghiệp, quỹ đầu tư, hạ tầng tài chính, viễn thông…. Lĩnh vực Fintech ở Việt Nam còn khá mới mẻ dù các công ty trung gian thanh toán đã xuất hiện vào năm 2008. Hiện nay, thị trường đang có hơn 40 công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó phần lớn tập trung vào mảng thanh toán, chiếm gần 60%. Hiện có 2/3 các doanh nghiệp khởi nghiệp Fintech ở Việt Nam đang cung cấp cho người tiêu dùng công cụ thanh toán trực tuyến; cung ứng giải pháp thanh toán kỹ thuật số POS/mPOS; chuyển tiền… Ngoài ra, thị trường Fintech Việt Nam còn có một số doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động ở những lĩnh vực khác như gọi vốn cộng đồng, dịch vụ cho vay trực tuyến….

Tuy nhiên, lĩnh vực Fintech tại Việt Nam chưa được phát triển như kỳ vọng của thị trường do chưa có khung pháp lý đầy đủ và đồng bộ. Hiện tại, cơ sở pháp lý cho hoạt động của các công ty Fintech mới chỉ là những quy định đơn giản, ban đầu. Chính vì vậy, thời gian tới, NHNN phải tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của các công ty này. Các vấn đề liên quan đến nghiên cứu khuôn khổ pháp lý, hoàn thiện hệ sinh thái và đề xuất phương thức quản lý lĩnh vực Fintech tại Việt Nam là rất quan trọng, cần đảm bảo nguyên tắc nhất quán, hiệu quả và sự đồng thuận cao trong nội bộ NHNN. Theo đó, việc giao đơn vị đầu mối triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể của Fintech cần phải được thực hiện phân công thông qua đầu mối tham mưu thống nhất cho Ban Chỉ đạo là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo để tránh sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ cũng như đưa ra các quan điểm trái ngược nhau về định hướng của NHNN trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, Cơ quan thường trực cũng là đầu mối tiếp nhận ý kiến đóng góp từ các thành viên trong Cộng đồng Fintech Việt Nam và phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế NHNN đối với các hoạt động hợp tác quốc tế về Fintech trong bối cảnh hoạt động Fintech tại Việt Nam đang hội nhập với khu vực và thế giới.

NHNN có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của lĩnh vực Fintech ở Việt Nam, đặc biệt là xây dựng một hệ sinh thái Fintech dựa trên lợi thế của Việt Nam xét về quy mô dân số, nguồn nhân lực đam mê công nghệ. Vai trò không thể thiếu của Fintech trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong giai đoạn hiện nay, cũng như vai trò xúc tác tạo nền tảng pháp lý thuận lợi của NHNN cho hoạt động của Fintech tại Việt Nam

Một số vấn đề trọng tâm của Fintech để có chính sách quản lý phù hợp trong thời gian sớm nhất, bao gồm: công nghệ Blockchain và ứng dụng của nó trong lĩnh vực tài chính ngân hàng; huy động và cho vay hàng ngang; Giao diện Chương trình Ứng dụng (API); hệ thống định danh khách hàng điện tử (e-ID) phục vụ cho việc nhận biết khách hàng (KYC)

Các Tổ chức tín dụng Việt Nam đã chủ động nắm bắt phản ứng của các ngân hàng trên toàn cầu đối với Fintech cũng như cuộc cách mạng 4.0 hiện nay và đang chủ động tích cực triển khai theo chiến lược kinh doanh, theo nguồn lực tài chính cũng như khả năng ứng dụng của mình. Việc NHNN đã vào hoạt động Hệ thống SG3.1 cũng tạo tiền đề thúc đẩy các TCTD Việt Nam trong triển khai ứng dụng các công nghệ tiên tiến, lựa chọn Fintech phù hợp và hiệu quả. Song gắn liền với đó là cần có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của các TCTD. Bên cạnh đó Chính phủ cần có cá chính sách miễn giảm thuế, ưu đãi về thuế trong giai đoan hiện nay để cho các TCTD có thêm nguồn lực tài chính trong đón nhận các xu hướng Fintech và cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra hết sức mạnh mẽ.

Việt Nam được đánh giá là thị trường có dân số đông và trẻ, am hiểu công nghệ, nhiều khách hàng chưa được tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Các cơ quan quản lý có liên quan của Việt Nam đang hướng tới mục mục phát triển an toàn, nhưng cũng cần khẩn trương tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho lĩnh vực Fintech. Các hoạt động của các TCTD Việt Nam đã bước đầu có sự phát triển Fintech nhưng nhìn chung vẫn theo mô hình truyền thống, mục tiêu an toàn, cần khẩn trương mạnh dạn đầu tư trong lĩnh vực này thời gian tới. Các công ty công nghệ đẩy mạnh hợp tác tốt với Fintech. Theo đó, mô hình ngân hàng hợp tác với các công ty Fintech trên cơ sở xây dựng chiến lược kinh doanh toàn diện, đi đôi với việc cơ quan quản lý giám sát chặt chẽ với một khuôn khổ pháp lý hiệu lực, hiệu quả là một lựa chọn hợp lý cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nguồn tài liệu tham khảo:

www.sbv.gov.vn

Trang web của một số TCTD

Một số nguồn khác